Hiến chương Liên hợp quốc cũng như tất cả các văn bản luật quốc tế đều không thừa nhận việc sử dụng vũ lực để chiếm đóng. Hành động của Trung Quốc năm 1974 có nhiều chứng cứ cho thấy là một cuộc xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam.
Suốt quá trình trước, trong và sau trận hải chiến Hoàng Sa, Việt Nam
Cộng hòa (VNCH) liên tục phản đối các hành động của Trung Quốc. Bộ Ngoại
giao VNCH đã ra Tuyên cáo lên án Trung Quốc xâm chiếm và khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của VNCH tại quần đảo này.
Trên thực địa, nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền, hải quân VNCH đã phải nổ
súng, thực hiện quyền tự vệ chính đáng, dù biết đối phương mạnh hơn.
Một ngày sau trận chiến, Bộ Ngoại giao VNCH tiếp tục có công hàm gửi
Tổng thư ký Liên hợp quốc để yêu cầu Tổng thư ký, theo Điều 99 Hiến
chương, lưu ý Hội đồng Bảo an về tình hình nghiêm trọng xảy ra bởi hành
động xâm chiếm của Trung Quốc. Tiếp đó, VNCH gửi thư cho các quốc gia
thành viên của Hiệp định Paris 1973 để cảnh báo về hiểm họa gây ra bởi
việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa.
![]() |
Đơn vị lính bảo an thực hiện nghi thức chào cờ trên đảo Hoàng Sa. Ảnh tư liệu
|
Ngày 21/1/1974, Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc đã triệu tập sứ
quán các nước để tố cáo hành động của Trung Quốc và yêu cầu các nước lên
tiếng bày tỏ thái độ, ban hành những biện pháp thích hợp trước biến cố
này.
Ngày 14/2/1974, Chính phủ VNCH công bố một bản Tuyên cáo xác nhận chủ
quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; khẳng định VNCH sẽ tiếp
tục đấu tranh để tái lập và bảo vệ chủ quyền của mình trên những quần
đảo này. Tuy sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng, nhưng điều
này không có nghĩa là VNCH từ bỏ chủ quyền trên những quần đảo này.
Ngày 22/3/2974, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đã đến New York (Mỹ) hội
kiến Tổng thư ký Liên hợp quốc để tái xác định lập trường của VNCH về
chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa.
Trong khi đó, nhìn ở khía cạnh
luật pháp quốc tế, hành động của Trung Quốc có dấu hiệu vi phạm rõ ràng.
Trung Quốc đã sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm Hoàng Sa.
Hiến chương Liên hợp quốc tại Khoản 4 Điều 2 quy định: “Các nước
thành viên Liên hợp quốc trong quan hệ quốc tế không được đe dọa dùng vũ
lực hoặc dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập
chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc nhằm những mục đích khác không
phù hợp với mục đích của Liên hợp quốc”.
Nghị quyết 2625 ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc quy định rõ: “Lãnh
thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng
quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương Liên hợp
quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm
hữu từ một quốc gia khác sau khi dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ
lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”.
Nghị quyết cũng quy định: “Các quốc gia có nghĩa vụ không đe dọa
hay sử dụng vũ lực để vi phạm các biên giới quốc tế hiện có của một quốc
gia khác hay như một biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế, kể cả
những tranh chấp về đất đai và những vấn đề liên quan đến biên giới của
các quốc gia”.
Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực ra đời đã đặt
dấu chấm hết cho phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng xâm chiếm (conquest).
Nguyên tắc này ra đời trước khi trận hải chiến tại Hoàng Sa diễn ra. Do
đó, Trung Quốc bằng hành vi sử dụng vũ lực, không thể xác lập chủ quyền
phi pháp của mình trên quần đảo Hoàng Sa theo luật pháp quốc tế.
Nguyên tắc này cũng được cụ thể hóa trong một loạt các văn kiện quốc tế
quan trọng khác như: Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc 1974 về
định nghĩa "xâm lược", Định ước của Hội nghị Hensinki 1975 về an ninh và
hợp tác của các nước châu Âu, Tuyên bố năm 1987 về việc nâng cao hiệu
quả của nguyên tắc khước từ đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực trong
quan hệ quốc tế…
![]() |
Tờ lệnh của Quan Bố Án Sát tỉnh Quảng Ngãi về việc phái binh thuyền vâng mệnh triều đình ra đảo Hoàng Sa thực thi nhiệm vụ vào ngày 15/4 năm Minh Mạng thứ 15 (1834).
|
Điều 301 Công ước Luật biển 1982 cũng quy định rằng: “Trong việc
thực hiện các quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, các quốc gia thành
viên tránh dựa vào việc đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực để xâm phạm
toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của mọi quốc gia, hoặc tránh
dùng bất kỳ cách thức nào khác không phù hợp với các nguyên tắc của pháp
luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc”.
Việc Trung Quốc xâm chiếm các đảo Phú Lâm và Lin Côn năm 1956 và dùng
quân đội chiếm đóng các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Cam Tuyền, sau đó là
toàn bộ nhóm đảo Trăng Khuyết là hành động cưỡng chiếm bằng vũ lực, phù
hợp định nghĩa về hành vi “xâm lược” theo luật pháp quốc tế.
Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số 3314 ngày 12/4/1974 đã đưa
ra danh mục các hoạt động được coi là hành vi xâm lược, không phụ thuộc
có tuyên bố chiến tranh hay không và ở nơi nào. Theo đó, việc sử dụng
lực lượng vũ trang chiếm đóng, thôn tính toàn bộ hay một phần lãnh thổ
quốc gia khác được coi là hành vi xâm lược.
Nguyễn Hùng Cường
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/chu-quyen-khong-the-xac-lap-bang-vu-luc-2940476.html
ReplyDelete